You are currently browsing the Song tren dat My weblog archives for September, 2009.
- Uncategorized (26)
- 4. December 2011: Một vài hình ảnh mùa Thu trên đất Mỹ
- 3. February 2011: Chúc Mừng Năm Mới
- 2. February 2011: Chợ hoa Tết
- 28. January 2011: Tết Cali 3
- 27. January 2011: Tết Cali 2
- 24. January 2011: Tết Cali
- 14. December 2010: Westminster là trung tâm Little Saigon
- 11. December 2010: "Nam Cali"
- 10. December 2010: Về Nam Cali
- 14. February 2010: Bối cảnh Tết ta tại Mỹ
Archive for September 2009
Tiếng Việt pha
29. September 2009 by thằng bờm.
Hôm nay xin nói về tiếng “check”, dùng rất nhiều. Gần như ngày nào bạn cũng ít nhất dùng 1 lần trên xứ Mỹ, nếu không nói trong bất cứ trao đỗi nào hơi dài một chút.
Vì bối cảnh những trao đổi, từ này khó có thể hiểu lầm, nhưng cũng nên bàn thêm cho rõ ý nghĩa của nó trong mỗi tình huốn. Một vài thì dụ với nghĩa tiếng check khác nhau hoàn toàn. Bạn sẽ thấy tiếng check có nhiều nghĩa tuy theo context.
- Anh check dùm tôi bài này. Để tôi check lại chương trình. Cô check lại xem trong xe còn sót gì không.
Check đây là động từ to check, có nghĩa là kiểm tra lại. Anh văn có checklist, danh từ, là 1 danh sách ngắn dài phải kiểm tra, thứ tự trên xuống, tỉ dụ như cheklist của phi công khi sắp nổ máy phi cơ. Có thể đơn sơ như 1 danh sách đi chợ.
Do tình huốn này bạn còn có thể nghe đối thoại như sau:
- Tank full? Xăng đầy?
- Check! Xong!
- Batteries good? Bình điện báo tốt?
- Check! Xong!
- Runway clear? Phi đạo rãnh?
- Check! Xong!
- Brakes off? Thắng nhã?
- Check! Xong!
Đó là đối thoại 1 nguời đọc checklist, 1 người thi hành hay kiểm tra và xác định.
- Anh viết cho toi một cái check.
Check đây là danh từ, xuất xứ là chèque tiếng Pháp, hay cheque tiêng Anh xưa.
- Tôi check-in lúc 9:00 giờ (tại khách sạn). Giờ check-out là 12:00 trưa.
Check-in đây là 1 thủ tục ghi danh, là động từ ghép không thể phân được mà không phá ý. Dĩ nhiên check-out là ghi danh ra. Check-in va check-out chỉ dùng cho tòa nhà, nơi làm, bệnh viện v.v… nói chung là 1 building, cơ sở. Khong thể dùng cho bất cứ gì khac.
- Tôi check-in lúc 10:00 (tại quầy VN Airlines)
Gần giống như vào hotel, do thủ tục hơi giống nhau. Có nghĩa là đăng ký, đến báo cáo là tôi có mua vé rồi và đây tôi sẵn sàng lên xe. Để ý là không có chuyện check-out máy bay.
- Anh có hành lý check không?
Check đây là gửi, từ tập tục xưa gửi đồ ngoài cửa 1 số nơi, như hàng quán, nhà khách. Tỉ dụ là mủ (hat check) hay áo choàng áo lạnh khi vào nhà hang, hộp đêm. Tiếng này chẵng may cũng dùngtrong việcđi lại bằng hàng không, làm nhiều người bối rối, lầm lẫn!Hai chuyện check-in va check hành lý khác xa nhau. Câu mẫu: “Check your coat at the door”, hãy gửi áo choàng khi vào cửa.”Check your bag at the entrance”, không có nghĩa là cho ai khám túi xách mình, chỉ có nghĩa là gửi lại.
- Cô cho xin cái check.
Check đây là cái hóa đơn, chỉ nói trong nhà hàng mà thôi.
- Mỗi câu hỏi có 2 ô, ô “Yes” và ô “No”. Anh hãy check ô nào thích hợp.
Check đây là lấy viết đánh một dấu, còn gọi là check mark, dấu check, lên miếng giấy
Ngoài ra tiếng Mỹ dân gian (slang) còn thành ngữ check it out, check this out. To check (object) out là hãy xem nè!, xem kìa!, xem di!
- Check this girl out!
Nhìn con nhỏ (đi sau lưng mình kìa)
- Check this out! (+ singing…)
Nghe nè! (+ nguoi nói hát 1 câu cho nghe…)
- I’ve seen this good movie. Check it out!
Tôi có xem 1 phim hay. Anh hãy đến xem nó đi!.
Còn lại tiếng check này ít nghe, có nghĩa là “chiếu tướng”, chỉ dùng khi đánh cờ:
- Check!
Chiếu tướng! (checkmate là chiếu bí, hết chổ chạy, cũng hô to “checkmate!”)
Ngừoi Việt ở Mỹ lạnh lẹ trong học hỏi và bắt chước, không có nghĩa họ hiểu hết những gì họ nói, nhưng với bối cảnh những trao đổi thì đối chiếu và hiểu được ý nguoi nói (tiếng Anh hay tiếng Việt… pha).
Ngươc lại có lắm người (spectrum học lực của người Việt ở đây cũng như nơi nào khác, kéo từ người ít học đến người hiểu biết rộng rãi) nói, dùng, mà không biết tiếng mình phát ra là gì trong tiêng Anh. Tỉ dụ như từ check. Tỉ dụ chữ line và lane sẽ đề cặp trong post khác.
Trong chuyến về thăm quê sau gần 1/4 thế kỷ thằng Bờm thường gặp Việt kiều về cứ lăng xăng cố pha tiếng Anh, và lắm khi thì pha sai, rất sai. Hiện tượng bắt chước không dành cho người bên này, nên tại Việt nam cũng có người pha tiếng Anh, pha sai mà không biết, và gây lây lan!
thằng Bờm
Về gốc từ check các bạn có thể google “etymology, check” hay dọc blog này để ý thức hiện tượng 1 tiếng nhiều nghĩa.
http://www.grammarphobia.com/blog/2009/08/check-it-out.html
Phần ghi chú:
Tại Mỹ dấu checkmark hình chữ V, 1 nhánh ngắn, trong khi tại Viet nam chẵng hạn người ta dánh dấu bằng chữ X. Văn minh Anglo-saxon kỵ chữ X vì xem chữ X như cross, mà thập tự giá của thiên chúa giáo cũng là cross.
Posted in Uncategorized | Print | No Comments »
Tiếng Việt trên đất Mỹ - tản mạn 1.5
28. September 2009 by thằng bờm.
Post này xin đem lại một trang web viết đã lâu thấy có liên quan vừa trùng tu và dờì chổ, xử dụng lại (xin độc giả thứ lỗi).
thằng Bờm
Posted in Uncategorized | Print | No Comments »
Tiếng Việt trên đất Mỹ - tản mạn 1
27. September 2009 by thằng bờm.
Đố các bạn biết, khi người Mỹ nói “mùa đông cua năm 2009″ thì là nói đầu năm 2009, hay cuối năm?
Việt Nam ta nói xuân hạ thu đông, đi học thì cô giáo nói bên Tây mùa đông có Noel, có tuyết và hàm ý nói là cuối năm. Mãi tới khi vấp phải nhiều hiểu lầm rồi thằng Bờm mới ngã ngữa là khi Mỹ nói “in the winter of 2000″ có nghĩa là đầu năm 2000, khoãng tháng 1 đến thang 3!
Cùng một lúc với khám phá là W.C. bên này chả có nghĩa gì cả, thằng Bờm khi đặt chân xuống phi trường Seatle mùa thu năm 1984, mang thẻ bài UNHCR (united nations high commission for refugees) mới biết là bên này tiếng Việt cũng nói khác. Anh hướng dẫn viên, một người hội thiện nguyện thông báo với bà con “ông bà lấy giấy viết số điện thoại này xuống đi”.
Tại sao lại xuống? Thường thì nghe “viết” thôi, và có dài ra thì là “viết lên trang giấy” chứ.
Chắc bạn biết rồi, vì trong Anh văn nói “to write something down”.
“To write down” và “to write” khác nhau. Nói mấy cũng không vừa, rằng prepositions, giới từ, trong tiêng Anh rất quan trọng. Phải biết, và phải dùng, dùng nhiều, dùng cho đúng. Blog này sẽ dề cặp đến nhiều khi có dịp gợi ý. To write down là ghi lại, chép lại, ghi xuống! To write chỉ là viết.
- Write down what I’m about to say.
Anh hay ghi xuống nhưng gì tôi sắp nói.
- He wrote down everything the teacher said.
Ông ta chép lại tất cà nhưng gì giáo viên nói.
- She had written me a letter.
Cô ta có viết cho tôi 1 lá thư.
Tiếng Việt anh hướng dẫn viên nói không sai, chỉ là tiếng Việt trên đất Mỹ. Thế này là sai này, mà vì bối cãnh (lại context, rất quan trọng trong chuyện ngôn ngữ đối thoại) nên hiểu dược dễ dàng:
Lái xe chỡ mấy đứa cháu dộ 12, 13 tuổi đi dạo, khi hơi lúng túng 1 vài blocks* thì bị hỏi “bác T. bị mất rồi hả?“. Bạn đoán đúng, “are you lost?” dịch ra tiêng Alexandre de Rhodes thì là “bác, anh, ông… đi lạc hả?”
Đó, context, context, context. Trên tàu (đi biển) nếu hỏi anh thủy thủ “where is the head, please?” thì anh ta sẽ chỉ cho phòng vệ sinh.
Tùy người đối diện!
Thằng Bờm.
Phần chú thích:
* Một block tại Mỹ:
Block là tắt “city block”, là 1 khu vực thành phố, đô thị do 4 đoạn đường vẽ ra. Khi nói block thì người ta lại không hàm ý khu phố, 2 chiều, mà lại muốn nói khúc đường từ ngã tư này đến ngã tư kia, 1 chiều thôi, khoãng cách chứ khong phải diện tích. Dĩ nhiên không khu vực nào giống khu vực nào, thế nên nghe “khoãng 1 block” sẽ khó hình dung xa gần nếu chưa đi qua. “Anh di khoãng 3 blocks thì nhìn bên phải” lại rất ích lợi khi người lái xe muốn tìm một cái gì, vì đối với người lái xe, xa gần cũng chỉ ngồi trong xe thêm chút, nhưng ngã tư rất quan trọng.
Người Việt biết căn bản tiếng Anh, hay Pháp, mới qua sẽ hiểu ngay khi nói “block”.
Còn nói “mất”, thì phải gải đầu đôi chút, phải hiểu vị trí của mấy đứa con nít này, mới qua, đi học tiểu học 1 niên khóa, nó suy nghĩ ra sao! Phải đi đôi giày chúng nó đi. Nói chung đó là phương thức tốt nhất khi đối thoại, bất cứ ngôn ngữ nào, hay “xuyên ngôn ngữ”.
Posted in Uncategorized | Print | No Comments »
Số ra mắt blog Sống trên đất Mỹ
26. September 2009 by thằng bờm.
STĐM có thể là một cái tựa đã được dùng nhiều lần trong báo chí, truyền thông mọi media*. Trong luật copyright thì tựa của một tác phẩm không copyright (có thể nói là cầu chứng) được. Bạn có thể sáng tác một tiểu thuyết, một cuốn phim, video, bản nhạc và dùng tựa quen thuộc như “Một chuyện tình”, “chiến tranh và hòa bình”, v.v… mà không động chạm đến quyền lợi của bất cứ ai.
Blog lấy tên STĐM vì tựa này nói lên mục đích và nội dung của blog một cách đầy đủ ngắn gọn nhất mà không phải giải thích dài giòng hay phân bua này nọ thêm chi.
Mời bạn đến xem và chia xẻ, ý kiến, phê bình, dàm đạo.
Như bạn biết, từ blog do cách ráp chữ từ “web log“, và ngay cả “web” cũng đã là từ gọn cho cụm từ world wide web, mạng lưới (điện toán) toàn cầu.
Log: khi xưa anh chàng nông dân hay tiều phu khong cầm bút, chỉ có cái rìu trong tay. Mỗi lần làm xong hay đạt một việc gì thì lấy dao hay rìu khắc 1 dấu vào 1 khúc gỗ. Khúc gỗ ngắn như khúc gỗ để đốt trong lò, tiếng Anh gọi là log. Từ đó log dùng để chĩ cuốn sổ tay hay cuốn nhật ký.
Hiện nay tại Mỹ dùng các từ “journal“, hay “log“, hay “diary” như nhau. Nếu ngược thời gian, log** được dùng nhiều nhất bởi người thương gia, người lữ hành, đặc biệt người thuyền trưỡng viễn du.
Blog này sẽ là một cuốn nhật ký dài hạn không thường trực, đề tài sẽ là những nhận xét về chuyện thường ngày gặp trên đất Mỹ, do một người Việt Nam sanh ra trên mãnh đất hình chữ S nhưng sống trên đất Mỹ đã lâu, với những chú thích đặc biệt dành cho người Việt quốc nội. Người viết blog tất nhiên tiếng Anh gọi là blogger. Chỉ là 1 nguoi độc thoại, trừ phi có người có y kiến ghi vào chính trang blog, và có cuộc trao đổi qua lại.
Blogger Thằng Bờm (một bút hiệu cũng khá phổ thông, và cũng không được cầu chứng!)
Phần Ghi Chú:
* Nói về từ media, rất phổ biến và thường dùng:
Thông tin gián tiếp giữa người và người dùng nhiều cách để phổ biến:
Điện tử: phát thanh trên làn sóng điện, phát hình, mạng toàn cầu
Giấy in: sách, báo, bích chương v.v…
Các môi giới ghi khắc thông tin khac như phim nhựa, ảnh trên giấy, phim ảnh kỷ thuật số, CD, DVD đọc bằng máy điện toán v.v…
Tất cả nhưng môi giới thông tin đó nay tại Mỹ gọi chung là media, là số nhiều của medium. Khi Mỹ nói the news media thì bạn phải nghĩ là các tổ chức (công ty) truyền tin Mỹ xử dụng báo chí in (print media) hay truyen thanh truyen hình (broadcast media). Loai media này còn gọi là mass media vì truyền tin ồ ạt và trong thời gian ngắn cho đại chúng. Các tập đoàn báo chí truyền hình lớn như ABC, CBS, NBC, và cac tập đoàn báo chí sở hữu các báo Washington Post, New York Times, Los Angeles Times, v.v… gom lại gọi là mainstream media. Đó là để đối lại với các báo chí hay đài truyền hình tư nhỏ hay cac trang web cua cá nhân hay tổ chức nhỏ. Các hãng thông tấn như AP, AFP, Reuters… thì được gọi là wire services, thâu tin và bán lại cho các media khác, khong thông tin ra quần chúng một cách trực tiếp với lời chú giải hay bình luận. Wire là vì khi xưa tin tức được chuyền đi bằng giây điện (wire), đánh đi và ghi nhận bằng teletype, một cách đánh máy từ xa. Các thông tấn cũng thuộc mainstream media.
Nói tóm lại, khi 1 nguoi chuyền cho 1 người khac 1 thông tin gian tiếp (không truyền trực tiếp từ miệng qua tai như điện thoại) trên 1 miếng giấy thì miếng giấy gọi là medium. Miếng giấy, CD, DVD, là phương tiện truyền bá thông tin. Medium, media là vật liệu ghi chép và là phương tiện truyền thông.
** Từ Log:
Log cũng được dùng như động từ (to log), có nghĩa là ghi lại, hay với nghĩa bóng hơn là thành đạt được. Tỉ dụ:
- He logged the whole adventure on a book.
Ông ta ghi hết câu chuyện của ông vào 1 cuốn sách.
- The pilot has logged 20,000 hours in his ten years at United.
Nguoi phi công đó đã hoàng thành 20.000 giờ bay trong 10 năm làm việc với hãng United.
Dùng như danh từ:
- The ship’s log showed Panama City as port-of-call on Tuesday Sep 10.
Nhật ký tàu có ghi nhận tàu có ghé bến tai Panama City ngày thứ ba, 10 thang 9.
- The policeman wanted to see the truck’s log.
Cảnh sát viên đòi xem nhật ký của chiếc xe tải.
Dùng có nghĩa là khúc củi: (phải xem context - bối cảnh - để phân biệt. Tỉ dụ dưới, ông kia không thể nào vứt 1 cuôn nhật ký vào lửa!)
- Father puts another log in the chimney.
Tía bỏ thêm 1 khuc củi vào lò sưởi.
Posted in Uncategorized | Print | No Comments »